Trong bài viết này, chúng ta hãy cùng tìm hiểu về vai trò của DIT, từ kiểm soát hình ảnh đến sắp xếp dữ liệu.

DIT LÀM GÌ?

Quan niệm của mọi người về công việc thực sự của một DIT phụ thuộc rất nhiều vào kinh nghiệm cá nhân của họ. DIT hay Digital Imaging Technician (Kỹ thuật viên Hình ảnh Kỹ thuật số) là một chức danh do công đoàn đặt ra, được liệt kê trong IATSE Local 600 (Cinematographers Guild)… Dù rất nhiều người ngoài kia tự gọi mình là DIT.

Được coi là một phần trong bộ phận camera chứ không phải thuộc hậu kỳ (mặc dù có rất nhiều mối liên hệ), DIT làm việc chặt chẽ với Cinematographer trong việc đảm bảo chất lượng hình ảnh và tính nghệ thuật của bộ phim trong suốt quá trình quay. Nó là một công việc xuất hiện trong thời đại kỹ thuật số và không nên bị nhầm lẫn với chức danh “data wrangler” hay “người sắp xếp dữ liệu”, vốn là một người thuộc bộ phận hậu kỳ và chuyên chịu trách nhiệm chép file và sao lưu footage. Thời nay, một người DIT thường đảm nhiệm luôn cả việc quản lý dữ liệu, lưu trữ và sao lưu, nhưng bạn cần nhớ rằng họ đóng một vai trò mang tính nghệ thuật quan trọng bên cạnh DP chứ không chỉ là một người quản lý dữ liệu đơn thuần thường làm.

DIT LÀM GÌ?

Bất kể mô tả công việc chính thức của vị trí này, chúng ta sẽ dùng DIT theo khái niệm mà nó được sử dụng rộng rãi trên thị trường hiện nay: công việc quan trọng nhất là quản lý media trong quá trình quay (mặc dù chúng ta cũng sẽ xử lý một số công việc liên quan đến quản lý chất lượng hình ảnh luôn). Ngoài ra, chúng ta cũng sẽ tập trung vào các project độc lập và các project có mức ngân sách thấp.

Hãy cùng tìm hiểu xem một set up của DIT cho một phim ngắn trông như thế nào với mức giá khiêm tốn bao gồm thiết bị, workflow và các ứng dụng thực tiễn trong quá trình.

Set up hệ thống cho DIT của bạn

Điều đầu tiên bạn muốn làm với tư các là một DIT là tìm một chỗ ngồi phù hợp trên hiện trường. Nói chung, đây là một cuộc trao đổi cần có giữa AD và Quản lý địa điểm. Về mặt cá nhân, tôi muốn nó tách biệt một chút, an toàn một chút và bí mật một chút. Sẽ rất tốt nếu vị trí đó thuận tiện cho đạo diễn, DP hoặc sản xuất có thể ghé ngang để kiểm tra một số footage ngay trong quá trình quay, nhưng cũng rất tốt nếu nó tách biệt khỏi phần còn lại của hiện trường để người DIT có không gian phù hợp để có thể tập trung tối đa vào công việc của mình. Ngoài ra, một số đạo diễn không muốn cho diễn viên nhìn thấy các footage có họ trong đó vậy nên tách biệt một chút cũng giúp tránh được việc này. Nếu vì lý do nào đó mà đạo diễn muốn cho diễn viên xem một vài footage, thì cảm giác được mời vào không gian linh thiêng này sẽ rất là đặc biệt.

Nếu bạn có một xe đẩy lớn, hoành tráng thì thật tuyệt (tôi ghen tị với bạn đấy), nhưng DIT ngày nay có đủ kiểu và đủ đẳng cấp và nếu bạn giống như chúng tôi, chỉ cần một hoặc hai cái bàn là xong. Đảm bảo rằng bạn mang dây nối dài và đồ bảo hộ mà bạn tin tưởng… và một bộ kiểm tra mạch điện là một ý tưởng không tồi.

Cuối cùng, có thể bạn sẽ muốn nghĩ một chút về bầu không khí. Làm thế nào để bạn biến không gian đó trở nên độc đáo đối với bạn, đồng thời vẫn ấm cúng và mời gọi đối với diễn viên và các thành viên trong đoàn? Bạn có thể bị hạn chế nghiêm trọng vì nhiều lý do khác nhau trên mặt trận này, nhất là khi bạn phải di chuyển liên tục, nhưng điều mấu chốt là mọi người ở trên set từ 12-16 tiếng một ngày trong nhiều ngày, vì vậy bạn hãy cố gắng hết sức để tạo ra một môi trường và năng lượng tích cực tại vị trí của mình, dù set up của bạn lớn hay nhỏ thế nào đi chăng nữa.

DIT LÀM GÌ?

Phần mềm

DaVinci Resolve

Mặc dù có có các phần mềm cao cấp hơn dành riêng cho DIT, chuyên dụng hơn, nhưng bản DaVinci Resolve miễn phí của Blackmagic Design vẫn đủ để hoàn thành công việc cho 99% production. Bạn có thể thoải mái sử dụng các phần mềm khác như Silverstack, Pomfort, Lattice, Hedge… nhưng hãy đảm bảo rằng bất kể bạn dùng phần mềm nào để chép file từ thẻ nhớ máy quay đều phải có Checksum-Verify, về cơ bản là một quá trình kiểm tra dữ liệu lỗi khi chuyển. Hình thức phổ biến nhất được gọi là MD5 và về cơ bản nó sử dụng một chuỗi số và ký tự để xác minh, mặc dù bạn không cần phải quan tâm đến nền tảng khoa học đằng sau công nghệ này, nhưng bạn cần phải hiểu rõ cách sử dụng nó.


Google Drive

Một lần nữa, mặc dù có nhiều giải pháp workflow mạnh hơn và phù hợp hơn để quản lý một lượng lớn giấy tờ và thông tin liên lạc có thể được tạo ra trong quá trình sản xuất, nhưng Google Drive vẫn là một phương thức hợp pháp để chia sẻ tài liệu qua lại giữa các thành viên trong nhóm và tạo bảng tính, lịch làm việc để giữ cho project của bạn được liên tục. Và hơn cả là nó MIỄN PHÍ.

Finder

Tôi xin nhắc lại rằng việc kéo – thả trong Finder KHÔNG phải là một phương pháp thích hợp để chép file từ trong thẻ nhớ của máy quay ra vì nó không có Checksum Verify. Chỉ nên dùng khi bất khả kháng. Một khi bạn cloned/verified bạn có thể dung Finder để tạo các bản sao lưu, mặc dù tôi vẫn phải nhấn mạnh rằng chỉ nên dùng nó khi không còn cách nào khác.

DIT LÀM GÌ?

Thiết bị

Với sự ra đời của các định dạng file có dung lượng lớn như RAW ở 4K, 6K và 8K (12K và 16K hiện cũng đang sắp sửa xuất hiện), điều đầu tiên và quan trọng nhất là bạn phải có đúng thiết bị để có thể làm công việc của mình một cách kịp thời nhất có thể. Không vui chút nào khi 4h sáng rồi mà bạn vẫn ngồi trên set, trong khi tất cả những người khác đã về nghỉ được vài giờ rồi, vì bạn vẫn phải chờ tải xong footage. Gần đây, điều này là không thể tránh khỏi nếu bạn xài laptop và phải xử lý các footage RAW ở độ phân giải lớn, nhưng may mắn thay những tiến bộ về mặt công nghệ máy tính phần nào có thể giúp bạn trong việc này nếu bạn có khả năng mua được những đồ chơi đắt đỏ nhất hiện nay, bạn chắc chắn có thể thực hiện được nhiều việc hơn với các thiết bị tương đối hiện đại.

Trong dự án phim ngắn mới nhất, chúng tôi sử dụng một set up hai máy tính. Tôi không nói rằng đây là một lựa chọn tốt. Phim được quay bằng máy Sony F55 và ghi đồng thời ở Sony RAW 4K (Sony F55 Raw SQ/23.976/4096×2160) và ở In-Camera proxies (XAVC Intra/23.976/1920×1080) trên hai thẻ nhớ AXS và SxS khác nhau. Máy tính một dành để xử lý các footage RAW và máy tính 2 được dùng cho Color Management, nhưng trước khi tìm hiểu workflow, chúng ta hãy xem qua thông số kỹ thuật của phần cứng mà chúng tôi đã sử dụng trong set up này.

DIT LÀM GÌ?

Máy tính 1 (xử lý RAW)

MacBook Pro 2018: 15-inch, 2.6 GHz i7 với 16 GB RAM và card đồ họa Radeon Pro 560X.

* Điều quan trọng cần phải hiểu ở đây là MacBook Pro 13-inch không có 560X và đó là điều làm nó khác với MacBook Pro 15-inch. Đây là nơi mà các eGPU mới, đẹp mắt này phát huy tác dụng (chúng ta sẽ nói về cái này trong phần tiếp theo).

Các thiết bị ngoại vi

Cal Digit T3: Hub để thêm các kết nối bổ sung thông qua Thunderbolt 3. T3 cung cấp sức mạnh cho MacBook Pro, nó có 5 cổng USB 3, một cổng display port, một cổng gigabit ethernet, audio in/out, optical audio out (cho 5.1 monitoring), một đầu đọc thẻ nhớ SD (hữu ích trong việc lấy âm thanh) và hai cổng Thunderbolt 3 bổ sung.

Blackmagic eGPU: Chúng tôi cũng sử dụng eGPU do Blackmagic Design cùng Apple hợp tác phát triển. Nó cho bạn bốn cổng USB 3 cũng như một cổng HDMI và 2 cổng Thunderbolt 3 để cho phép máy mac tương thích USB C của bạn có thể kết nối với Radeon Pro 580 GPU bên ngoài với 8GB bộ nhớ GDDR5. Trong trường hợp của chúng tôi, chúng tôi đã chạy trên MacBook Pro 2018 12-inch, vốn đã có Radeon Pro 560X on-board và chiếc MacBook Pro thứ hai không tương thích với USB-C nên thay vì tăng cường sức mạnh xử lý của máy tính chính lên một cách đáng kể, chúng tôi chỉ tận dụng sức mạnh của GPU tích hợp bên trong máy. Nếu chúng tôi không có Cal Digit T3 thì chúng tôi cũng có thể sử dụng eGPU làm hub kết nối.

Một vài lưu ý về eGPU

Có một quan niệm sai lầm nhỏ là eGPU làm việc song song với GPU tích hợp trong máy tính như một loại render farm, nhưng thực tế lại không phải vậy. Trong hình dưới đây, bạn có thể thấy rõ ràng là GPU thực hiện tất cả các công việc trong ảnh chụp màn hình phía bên trái và eGPU thực hiện các công việc trong ảnh chụp màn hình phía bên phải và GPU tích hợp trên máy chỉ tăng một chút công suất xử lý. Nhưng nếu chúng tôi dùng MacBook Pro 2018 13-inch thì sẽ là một câu chuyện khác vì loại 13-inch chỉ có Intel Iris Plus Graphics 640 onboard (và nó không phải là GPU chuyên dụng), vậy nên Radeon Pro 580 thực sự tạo ra một sự khác biệt lớn trong trường hợp này.

Cuối cùng nhưng không phải là tất cả, chúng tôi có một đầu đọc thẻ Sony AXS kết nối với máy tính cho camera RAW mà chúng tôi sẽ chép vào ổ 8TB G-RAID và sau đó sao lưu vào hai ổ 8TB Seagate Barracuda thông qua một OWC toaster (Thunderbolt 2) để dự phòng.

DIT LÀM GÌ?

Máy tính 2 (Proxies/Color):

MacBook Pro 2015: vi xử lý 2.7Ghz dual-core Intel Core i5 với 8GB RAM

Các thiết bị ngoại vi

Blackmagic Thunderbolt 2 Intensity Shuttle: xuất HDMI ra màn hình của chúng tôi. Trong trường hợp của mình, chúng tôi dùng màn hình Sony XBR 4K 65-inch, dù chưa được hiệu chuẩn màu nhưng đủ để chúng tôi sử dụng trong các công việc trên hiện trường. Nếu chúng tôi cần xem màu chuẩn thì chúng tôi cần phải mang theo màn hình đã được hiệu chuẩn đàng hoàng, nhưng chúng tôi không có đủ ngân sách cho việc đó. Ít nhất bạn nên thử sử dụng một số loại phần cứng (Như Intensity Shuttle của Blackmagic Design mà chúng tôi sử dụng) để có tín hiệu video thực tế – thay vì chỉ dùng card đồ họa trên máy tính – tức là những gì bạn nhận được từ cổng HDMI out của MacBook Pro.

Cuối cùng, máy tính thứ hai này có một đầu đọc thẻ nhớ Sonnet SxS (mà chúng tôi cần để theo dõi và tải driver) với một Lacie Rugged 2TB mà chúng tôi đã ném các proxy dailies stringout để đạo diễn đem về nhà sau mỗi ngày quay và xem lại trên laptop của cô.

DIT LÀM GÌ?

DIT Workflow

Đó là các thiết bị chúng tôi có trong set up và đã thảo luận về thông số kỹ thuật, phần cứng và phần mềm. Giờ đây chúng ta sẽ từng bước tìm hiểu về workflow mà chúng tôi đã phát triển cho DIT trên phim trường phim ngắn CATFIGHT.

Chúng ta sẽ bắt đầu với máy tính chính được dùng để xử lý và quản lý các footage RAW.

Máy tính 1

1. Nhận thẻ AXS với RAW từ bộ phận quay.

2. Gắn thẻ nhớ máy quay vào đầu đọc thẻ nhớ AXS.

3. Tải footage trong DaVinci Resolve thông qua Clone Tool (tự động checksum verify).

4. Một khi các footage đã được chép xong, và miễn là không có vấn đề gì, thì hãy tiếp tục sao lưu dữ liệu hai lần trước khi làm bất cứ việc gì khác.

5. Một khi đã chép file và sao lưu dữ liệu xong, hãy kiểm tra lần nữa với báo cáo camera trước khi trả thẻ về cho bộ phận camera để format. Một khi thẻ nhớ đã được format, bất kỳ file nào trên đó sẽ vĩnh viễn biến mất, vậy nên cực kỳ quan trọng là bạn đã chép file và sao lưu đầy đủ trước khi trả thẻ về.

Giờ đây điều này có thể là kết thúc của rất nhiều shoot nhưng như tôi nói trước đây, chúng ta đã cố gắng kết hợp một số yếu tố bổ sung vào workflow để khi chờ lần chép thẻ tiếp theo tôi sẽ tải một số clip RAW cho colorist trên hiện trường, người đang ngồi bên máy tính số hai thông qua một ổ cứng chuyển file (một ổ Seagate 4TB với một bộ chuyển đổi USB 3.1 tiện lợi) và anh có thể bắt đầu xây dựng look phù hợp cho footage dựa trên đầu vào từ DP, đạo diễn và các LUT đã được áp vào proxies đã được quay trong máy quay.

DIT LÀM GÌ?

Trong khi đó, trên máy tính số 2

1. Nhận thẻ SxS từ máy quay.

2. Gắn vào đầu đọc thẻ, mở DaVinci Resolve và offload/clone các footage tương tự như cách chúng ta làm với các footage RAW ở trên – trừ việc lần này thư mục đích sẽ nằm trên Rugged Lacie 2TB.

3. Một khi các proxies đã được clone, đưa chúng vào media pool trong DaVinci Resolve, chọn lựa và tạo một sequence với dailies từ loạt footage này.

4. Một khi các proxies in-camera được colorist chăm sóc trên set và sau đó lấy mẫu RAW và bắt đầu xây dựng các look dựa trên các LUT proxy, phản hồi từ DP, đạo diễn…

5. Một khi xử lý xong trên hiện trường, colorist sẽ xuất một LUT ra và gửi Airdrop qua máy tính thứ nhất, nơi nó sẽ được áp vào tất cả các clip RAW tương ứng – và từ đây chúng tôi sẽ tạo MXF editing proxies – với một look chi tiết hơn so với in-camera proxies, LUT đã được tạo trước đó.

DIT LÀM GÌ?

Ở đây, MXF Proxies được chuyển cho người dựng phim trên hiện trường, người cũng đóng vai trò là dựng phim chính của dự án này. File được đưa vào Avid và bắt đầu dựng. Bây giờ, vì chúng tôi không có AE (Assistant Editor) trên hiện trường để hỗ trợ đồng bộ hóa/sắp xếp file, bất cừ bản dựng nào được tạo trên hiện trường rất có thể cần phải được thực hiện lại khi trợ lý dựng bắt đầu làm việc sau khi đóng máy. Mặc dù vậy, việc này vẫn đáng để thực hiện vì a.) đạo diễn có thể thấy các cảnh được dựng với nhau ngay trên hiện trường khi bối cảnh, phục trang và diễn viên… vẫn đang có mặt và vì vậy có thể lên kế hoạch cho shot list tốt hơn mỗi ngày cũng như nhanh chóng có kế hoạch xử lý nếu có gì không ổn b.) họ quay một số cảnh MOS (no sync sound) và vì vậy trong trường hợp đó bạn có thể giữ các bản dựng tạm thời được thực hiện trên set mà không có âm thanh.

Kiểm tra, kiểm tra lần hai và kiểm tra lần ba.

Trong quá trình làm việc, chúng tôi liên tục kiểm tra chéo với nhiều thức khác nhau để đảm bảo không mất hoặc hỏng file nào. Tôi đã đính kèm một danh sách kiểm tra DIT mẫu mà bạn có thể tải xuống ở dưới, nhưng về cơ bản bạn nên theo dõi xem có bao nhiêu file trên thẻ và bao nhiêu file được chuyển qua ổ cứng. Chúng tôi đã gặp nhiều trường hợp mà hai con số này khác nhau, do đó, thực tế là không phải shot nào cũng được chép qua một cách đầy đủ. Khi kiểm tra kỹ hơn, chúng tôi đã phát hiện một thẻ lỗi và chúng tôi đã nhanh chóng loại bỏ thẻ này để thay bằng một thẻ mới. Chúng tôi cũng kiểm tra shot count trên ổ cứng với shot count của Giám sát kịch bản và camera log từ bộ phận camera và sound rolls, cũng như kiểm tra lần hai các clip RAW trên máy tính một với In-Camera Proxies trên máy tính hai khi chúng tôi đang offload. Nếu phát hiện bất cứ sự khác biệt nào, chúng tôi sẽ gọi 2nd AD, và anh ấy sẽ cho chúng tôi nói chuyện với người chịu trách nhiệm liên quan để khắc phục vấn đề một cách nhanh nhất có thể. 99% vấn đề liên quan đến phần giấy tờ, nhưng có một lần đó là lỗi của con người mà chỉ có thể phát hiện ra trong lần kiểm tra thứ ba, và nó là thứ mà bạn rất muốn phát hiện kịp thời.

DIT LÀM GÌ?

Cuối ngày

Cuối cùng, chúng tôi sẽ khóa ổ cứng chính trong văn phòng sản xuất đặt tại hiện trường, tôi sẽ đem một trong những ổ cứng dự phòng về nhà và đưa bản dự phòng thứ hai cho Producer của chúng tôi. Thực hiện sao lưu dự phòng chỉ hữu ích 30% nếu bạn đặt bản dự phòng bên cạnh các bản sao lưu khác vì nó chỉ giúp bạn tránh khỏi nguy cơ hỏng ổ cứng mà thôi, còn các nguy cơ như hỏa hoạn, lũ lụt, trộm cướp hay bất cứ tai nạn bất ngờ nào khác… Vậy nên hãy chia các bản sao lưu đó ra để ở các nơi khác nhau và luôn có ít nhất 3 bản của tất cả file RAW, bởi nếu không thì nó không thực sự được sao lưu.

Các bản sao lưu dự phòng luôn được đặt trong két an toàn chống lửa/chống nước ở nhà khi tôi đem về sau mỗi ngày quay. Sau khi kết thúc quá trình quay, tôi đưa tất cả các ổ cứng (ổ chính và hai ổ dự phòng) cho Production cùng với bất kỳ báo cáo quay, âm thanh, kịch bản được chuyển cho tôi trong suốt quá trình quay.

Sau đó tắt hệ thống của bạn, đóng gói lại, đừng tiết kiệm dây quấn và đồ chống sốc, và đảm bảo rằng nhớ tắt đèn khi ra khỏi phòng.

Lời cuối

Những gì chúng ta vừa thảo luận ở trên đây chỉ là một cách để quản lý tính toàn vẹn của hình ảnh và media trong quá trình quay. Điều quan trọng là phải hiểu rằng có nhiều loại máy quay, codec, phần mềm và phần cứng ngoài kia và không có hệ thống nào giống hệt  nhau đối với một DIT và hy vọng bài viết này có thể mang đến cho bạn một cái nhìn cơ bản vào một số yếu tố khác nhau trong workflow của một DIT mà bạn có thể kết hợp trong dự án tiếp theo của bạn, bất kể quy mô nhỏ lớn thế nào.

Nguồn: No Film School

Pixel Factory sưu tầm và biên dịch