Thật dễ dàng để đưa ý tưởng vào tâm trí một ai đó – và cục cực kỳ khó để thay đổi nó. Đâu đó trong ngành này, khi chuyển từ analog sang kỹ thuật số, một quan niệm sai lầm về vị trí của người DIT – Digital Imaging Technician – đã xuất hiện. Hôm nay, chúng tôi quyết định thực hiện bài viết này để đưa mọi thứ về đúng chỗ của nó. DIT là một người hỗ trợ cho  cinematographer, và có một nền tảng kỹ thuật video để quản lý chất lượng hình ảnh, các vấn đề/sự cố trong quá trình quay, thực hiện color correction ngay trên hiện trường, quản lý workflow của một production. Một số DIT hàng đầu trong ngành công nghiệp từ New York và L.A. đã dành thời gian để chia sẻ với No Film School về nghề DIT và giúp làm rõ vai trò và ảnh hưởng của người DIT đối với bất cứ production nào – dù lớn hay nhỏ.

DIT VÀ NHỮNG QUAN NIỆM SAI LẦM VỀ VỊ TRÍ NÀY

Hỏi: Anh có thể chia sẻ với chúng tôi một chút về bản thân mình được không ạ?

Ben Schwartz: Tôi bắt đầu sự nghiệp của mình với vai trò là quay phim và dựng phim cho một chương trình tin tức truyền hình. Hồi đó chúng tôi còn làm việc với máy quay Beta SP. Nhờ làm công việc này, tôi đã học được rất nhiều về phơi sáng và cân bằng trắng, cấu trúc menu bên trong, và tính lộn xộn của tín hiệu video analog. Sau một thời gian ngắn ở trường điện ảnh, tôi ra trường và làm việc cho một công ty sản xuất video. Ở đó họ có một máy Sony HDC-950, vào thời điểm đó, chiếc máy này là đỉnh cao trong dòng máy quay video hỗ trợ định dạng HD. Lúc đầu, chúng tôi phải thuê DIT ở bên ngoài, nhưng tôi nhận ra đó là cơ hội để xây dựng nền tảng của mình trong ngành này và phát triển một bộ kỹ năng mà vào thời điểm đó rất ít người có được.

Tôi đến Burbank và tham dự một khóa học để trở thành DIT với Jeff Cree, người đã và vẫn đang là một trong những nhân vật hàng đầu trong công nghệ video HD. Khi tôi mới bắt đầu sự nghiệp DIT của mình vào năm 2006, các máy quay chiếm ưu thế là Sony F900 và Panasonic Varicam. Công việc của tôi phụ thuộc vào phần cứng, thuần túy là kỹ thuật video. Thời đó, công việc này chưa có sự tham gia của máy tính. Máy tính chỉ được sử dụng trong hậu kỳ. Máy quay được nối với các hộp điều khiển từ xa, thứ mà những người trong ngành gọi là  “paint box”. Ma trận màu bên trong của máy quay được điều khiển từ xa thông qua các hộp này, và color corrected master được ghi trực tiếp lên băng HDCAM SR hoặc thẻ P2 hoặc bất cứ thứ gì tương tự.

Abby Levine: Tôi muốn nghĩ rằng tôi là một trong hai DIT đầu tiên, nhưng có lẽ tôi chỉ là một người trong những nhóm DIT đầu tiên. Những người ở nhóm đầu là những người có nền tảng kỹ thuật lớn hơn. Vào năm 1986, tôi đã cùng với một công ty sản xuất nhỏ có tên là Rebo Studio. Barry Rebo, người điều hành công ty, là người cầu tiến và anh ta quan tâm đến HD. Và cuối năm 1986, một xe tải chất đầy máy quay analog HD thế hệ đầu tiên được chở đến, nhưng lại không có hướng dẫn sử dụng.

Vậy nên chúng ta phải tìm hiểu về những thứ này – và chúng tôi đã làm được. Chúng tôi tìm ra cách để làm cho những thiết bị siêu nặng nề này hoạt động được trong môi trường di động. Phải mất nhiều năm để tiến bộ, nhưng chúng tôi đã dành cả thập kỷ từ năm 1986 cho những gì thực chất là sản xuất thử nghiệm. Bạn phải cầu tiến một xíu để có thể dự phần vào toàn bộ tiến trình, để làm gì đó cho tương lai thay vì chỉ tập trung vào việc quay phim và sử dụng workflow hiện có. Nhưng tôi nói với mọi người rằng chúng tôi bắt đầu quay HD từ những năm 1986-1987 và họ rất ngạc nhiên. Và nó là một vụ nổ – nó luôn là một dự án khoa học.

Ben Cain: tôi từng là người quay trong lĩnh vực ENG/EFP cho các show truyền hình phi hư cấu của các mạng truyền hình cáp. Trong các project như thế này, số lượng thành viên trong đoàn quay bị giới hạn ở mức tối thiểu và chúng tôi không có DIT. Vì phải tìm cách kết hợp source từ nhiều máy quay khác nhau, tôi phải học cách dùng paint box và đọc vectorscope và waveforms. Hóa ra nó lại là một khóa học rất tuyệt vời trong kỹ thuật video HD và cuối cùng tôi đã tìm thấy nhu cầu cho kỹ năng này ngày càng lớn hơn trên các production kinh phí lớn, cao cấp. Vậy nên tôi chuyển từ một anh quay phim sang làm DIT toàn thời gian. Tôi bắt đầu sự nghiệp với tư cách là một người quay phim, và tôi vẫn là xem mình là một người quay phim mà thôi.

Elhanan Matos: tôi bắt đầu làm DIT từ năm 2005. Trong vòng 4 năm, tôi chủ yếu làm quảng cáo thương mại, nhưng tôi cũng đi phim nếu tôi biết thành viên đoàn quay hoặc cinematographer.

Sony RMB-750, paint box điều khiển các dòng máy quay Cinealta.

 

Hỏi: Việc chuyển đổi sang capture dựa trên file thay đổi vai trò của DIT như thế nào?

Ben Schwartz: với sự ra đời của RED ONE, chúng tôi thấy một sự thay đổi lớn trong mô hình theo hướng chuyển sang ghi raw và chỉnh màu trong hậu kỳ thay vì xử lý ngay trên hiện trường. Theo tôi nhớ, năm 2009, hầu hết các job mà tôi làm được quay bằng RED ONE. Nó là một tiếng chuông cảnh tỉnh đối với tôi, và tôi biết các DIT khác cũng vậy, bởi vì thế giới đang dần thay đổi từ kỹ thuật video cổ điển sang các workflow dựa vào phần mềm. Và nó buộc tất cả chúng tôi phải thành thạo với máy tính.

Tôi cũng phải xác định lại với chính mình rằng trách nhiệm công việc của tôi là trách nhiệm của một DIT. Trước 2009, tôi ngồi bên cạnh DP trước màn hình và làm color correction trực tiếp tùy theo thông số kỹ thuật và match source từ nhiều máy quay khác nhau ngay trên hiện trường. Màu sắc sau khi được color correction được ghi vào băng và ít nhiều nó cũng rất gần với màu sắc cuối cùng. Với RED, công việc trở nên thiên nhiều hơn về việc xử lý dữ liệu và áp màu sao cho không phá hủy hình ảnh, cho cả tín hiệu video trực tiếp hoặc sau khi tải về bằng các phần mềm như RedCine hoặc SpeedGrade. Đó là năm mà tôi thực sự chuyển toàn bộ trọng tâm nghề nghiệp của mình, và bây giờ tôi vẫn còn cảm nhận được hậu vị của nó.

Abby Levine: Hơn bất cứ điều gì, nó làm thay đổi trách nhiệm công việc của chúng tôi. Ngày xưa, khi quay băng, bạn không cần tạo clone cho băng. Chỉ có một bản sao và nó sẽ được đưa vào phòng hậu kỳ và lúc đó nhiệm vụ xử lý nó đã được chuyển hoàn toàn cho hậu kỳ. Khi chuyển sang quy trình xử lý dứa trên file, mọi thứ cần được xác minh và bạn cần phải tạo các bản sao. Vậy nên, trách nhiệm về dữ liệu và các bản sao này lại rơi vào tay DIT. Ngoài ra, những kỳ vọng trong việc hoàn thiện mọi thứ tăng lên. Tôi không thể nói với bạn bao nhiêu lần người ta dựng những thứ mà chúng tôi vừa quay sáng ngày hôm đó. Mọi thứ gấp gáp. Họ đã nén timeline của production.

Ben Cain: Theo ý kiến của tôi, máy quay đã gieo hạt giống cho sự phát triển các workflow mới, dẫn đến sự dịch chuyển mô hình diện rộng trong toàn bộ ngành này là Panasonic DVX-100, máy quay kỹ thuật số 24p giá rẻ đầu tiên trên thế giới. Lần đầu tiên, bất cứ ai cũng có thể tạo ra những hình ảnh khá giống như một bộ phim. Và với điều này, cuộc cách mạng kỹ thuật số đã ra đời. Nhưng điều thực sự mở cánh cửa cho cuộc cách mạng này là máy quay tiếp theo của Panasonic: HVX200, đây vừa là máy quay dựa trên file vừa là máy quay HD đầu tiên được bán với mức giá mà ai cũng có thể mua được.

Nhưng khi tất cả mọi người đi đầu của cuộc cách mạng nhanh chóng nhận ra, vấn đề với các máy quay này là hình ảnh quả nhỏ và gần như không thể tạo ra được những vùng lấy nét có chọn lọc, một trong những phẩm chất đặc trưng của khái niệm ‘film look’. Điều này dẫn đến việc tất cả những nhà sản xuất máy quay trong ngành đều thực hiện việc điều chỉnh và thay đổi độ sâu trường ảnh để tạo các hình ảnh mang tính điện ảnh hơn trên các máy quay với cảm biến bé xíu này. Giờ đây đã có một sự thay thế mang tính thực tế khi quay phim điện ảnh, mặc dù nó hơi công kềnh và khó sử dụng hơn một chút.

Cùng lúc đó, tất nhiên trên thị trường cũng có nhiều máy quay có cảm biến lớn như Arri D-21, Sony F35, và Panavision Genesis. Bởi vì các hệ thống này rất đắt đỏ và không phổ thông, nên chúng không tạo ra được các ảnh hưởng lớn lên ngành công nghiệp nhiều như RED One. Đây là máy quay thực sự làm thay đổi mọi thứ khi nó ra đời cuối năm 2007. Trước đây người ta dùng băng và paint box, giờ thì người ta có các hệ thống máy tính nơi look được tạo ra trong hậu kỳ. Đây là một cách làm việc hoàn toàn mới và mãi mãi làm thay đổi vai trò của DIT trên phim trường.

Elhanan Matos: Khi RED ONE lần đầu tiên được ra mắt, nó chưa bao giờ thực sự cất cánh, ít nhất là về mặt thương mại. Nó gây được chú ý vào lúc đầu, nhưng sau này Alexa ra đời và soán ngôi. Tôi thích ghi lại dữ liệu bằng hệ thống dựa trên file. Tôi luôn là một con mọt máy tính, vậy nên điều này đối với tôi là rất tuyệt. Tôi thích nó. Tôi biết rất nhiều DIT có thể thực hiện tốt công việc của mình, nhưng không thể sử dụng máy tính. Và những người vẫn đang làm việc, tôi nhớ là tham dự một buổi hội thảo khi các codec lần đầu tiên được giới thiệu và một nửa trong số những người tham gia hội thảo đó không thực sự hiểu khái niệm đó là gì.

Và họ chỉ cho chúng tôi cách thay đổi các thiết đặt, bạn kết nối nó với một máy tính và sau đó đi vào thiết bị đầu cuối và về cơ bản thì giao thức SSH sẽ đi vào các codec và thay đổi các thiết đặt của bạn từ đây. Và mọi người ngồi đó, viết tất cả các lệnh nhỏ một cách chi tiết để điền vào. Và tôi nhớ rằng tôi đã nghĩ: “Trời, nếu họ phải nhớ tất cả mọi phím tắt trong thiết bị đầu cuối thì hẳn công việc của họ sẽ khó khăn lắm.” Họ đã hy vọng có thể kéo và thả, vậy nên nó khiến công việc khó khăn hơn cho họ rất nhiều, và họ sẽ không thay đổi worklfow của mình, họ đã mắc kẹt với một workflow và họ nhớ rất cả mọi thứ nhưng không hiểu rõ hoàn toàn.

“Các workflow cũng giống như những bông hoa tuyết vậy. Tất cả chúng đều khác nhau.”

Hỏi: Mọi người có nghĩ công việc của mình là một công việc sáng tạo không?

Ben Schwartz: Một số DP không hề tương tác với DIT khi làm việc. Một số DP khác ngồi chung với DIT cả buổi, nhìn vào màn hình của DIT và tư vấn cho họ các vấn đề về phơi sáng, màu sắc, scene-to-scene LUT. Nhiều năm trước khi việc ghi raw và log ra đời, công việc này còn mang một chút sáng tạo vì bạn phải chịu trách nhiệm cho việc điều khiển ma trận màu bên trong máy quay.

Vậy nên, luôn có một chút hợp tác giữa DIT và DP trong việc hoàn thiện look của hình ảnh. Tôi nghĩ rằng công việc này ngày càng trở nên ít tính sáng tạo và mang nặng tính kỹ thuật hơn so với những năm về trước. Nhưng điều này nói rằng, tôi vẫn tin rằng DIT có thể đóng góp vào quá trình sáng tạo nếu workflow và người cinematographer khuyến khích cho điều đó.

Abby Levine: nhiệm vụ cuối cùng với tôi là đối với DP, và trong bối cảnh đó, sự đóng góp của tôi đối với quá trình sáng tạo tùy thuộc vào mối quan hệ của tôi với DP và mong muốn của DP đối với dữ liệu đầu vào. Có những DP mà tôi làm việc với một cách rất nhiệt tình, và theo lẽ thông thường, chúng ta phát triển một mối quan hệ với những người có khả năng làm mình hào hứng và ngược lại. Và có lẽ đối với những công việc như vậy, bạn có xu hướng có nhiều input sáng tạo hơn. Tôi không phải là một cái drone – tôi phải được truyền cảm hứng để cho ra những thứ đầy cảm hứng. Tôi hứng thú và quan tâm nội dung của chương trình, và tạo look cho show cũng như quản lý mọi vấn đề khác về mặt kỹ thuật.

Tôi cũng thích các thách thức kỹ thuật phức tạp. Trong những ngày đầu chúng tôi thường cười về việc mỗi production HD trở thành một dự án khoa học, bạn phải ghép mọi thứ lại với nhau và có rất nhiều thứ không nhất thiết phải làm việc cùng nhau. Thành thực mà nói, đầu vào sáng tạo và đầu vào kỹ thuật từng có liên hệ mật thiết với nhau nhiều hơn bây giờ, nhưng nó là công việc đòi hỏi trách nhiệm cao trong việc kiểm soát chất lượng, và rất nhiều trong số đó là ở cấp độ sáng tạo.

Ben Cain: DIT là một vị trí mà để thành công và thể hiện được bản thân cũng như kỹ năng của mình, tính cá nhân là một yếu tố hết sức quan trọng. Những người có chuyên môn khác nhau sẽ có những tiềm năng khác nhau. Một số kỹ thuật viên nổi trội ở các kỹ năng như chỉnh màu trực tiếp, matching source từ nhiều máy quay khác nhau và set up các hệ thống video phức tạp. Mặt khác, có một số người hiểu rất rõ về in và out cùng cách chuyển một lượng dữ liệu lớn một cách an toàn và tạo ra các tệp có thể giao được với tốc độ và hiệu quả cao nhất cho production.

Một số DIT tay nghề siêu cao có thể thành thạo tất cả các nhiệm vụ và dễ dàng nhảy qua nhảy lại khi chỉnh màu trực tiếp cho 4 máy quay một ngày và sau đó xử lý Codex có thể giao ngay được trên một workstation. Nó thực sự phụ thuộc rất nhiều vào tính cá nhân trong việc quyết định bạn muốn tham gia dự án nào. Có một số người thiên về kỹ thuật và một số người khác thiên về sáng tạo hơn. Nhưng về mặt bản chất, vị trí này là một cuộc hôn nhân hòa hợp giữa cả hai yếu tố trên.

Elhanan Matos: Nó tùy thuộc vào DP. Có một số DP không muốn mô tả từ REC 709 look, và trong trường hợp đó tôi nghĩ nó không có gì là sáng tạo cả. Nhưng một số DP khác muốn nghe ý kiến của bạn và muốn bạn tạo look để họ chọn. Hoặc họ sẽ ngồi cùng bạn và làm việc với bạn để tạo look.

DIT VÀ NHỮNG QUAN NIỆM SAI LẦM VỀ VỊ TRÍ NÀY

Hỏi: Nhu cầu của các dự án quảng cáo thương mại khác với truyền hình và phim điện ảnh như thế nào

Ben Schwartz: quảng cáo thương mại thường có xu hướng kết hợp với nhau rất nhanh chóng. Đôi khi tôi được thuê một hoặc hai ngày trước khi quay. Vì lý do đó, thường không có thời gian để hoàn thiện workflow như khi bạn làm việc trong các dự án phim điện ảnh hoặc truyền hình. Các sản xuất tìm đến DIT để xác định và giám sát workflow trên phim trường quay quảng cáo. Lý tưởng nhất là bạn cố gắng hợp lý hóa workflow mà không làm thay đổi quá nhiều. Về cơ bản thì bạn là một cầu nối giữa quá trình sản xuất và hậu kỳ, duy trì kiểm soát chất lượng và đảm bảo tính nhất quán giữa các shot với nhau, và gần như luôn quản lý dữ liệu.

Abby Levine: có một workflow khá chuẩn cho các dự án sản xuất video quảng cáo thương mại. Đối với truyền hình và điện ảnh, workflow thường được thay đổi một chút để phù hợp với đặc thù riêng của từng dự án – bạn sẽ muốn tham gia và đảm bảo các dailies được tạo đầy đủ và chúng phản ánh được những gì mà DP nghĩ rằng anh ta đã tạo ra được trên hiện trường. Có rất nhiều việc phải làm đi làm lại trong một và tuần đầu tiên của một dự án truyền hình hoặc điện ảnh để hoàn thiện và tỉnh chỉnh lại workflow.

Điều này không xảy ra trong các dự án sản xuất video quảng cáo thương mại, vì một agency sẽ đến và phá hủy mọi thứ. Đối với phim điện ảnh, người ta phát triển một thứ gọi là “tình yêu tạm thời” (temp love). Nếu họ dựng trên các dailies đã được color correction sẵn, họ sẽ quen với việc đó và bắt đầu thích nó. Và sau đó DP có thể sẽ bước vào và nói: “Đó không phải là thứ mà tôi đã nghĩ về.” Vậy nên, trong các dự án dài hơi hơn, bạn sẽ muốn các footage được đưa vào phòng dựng phải có độ chính xác cao hơn.

Ben Cain: Trong các dự án sản xuất video quảng cáo thương mại, DIT có một vai trò rất quan trọng. Mô hình hậu kỳ đã thay đổi đáng kể trong phân khúc này giờ đây hiếm khi người ta thấy sự tham gia của một phòng lab trừ giai đoạn finishing. Bởi vì lab không xử lý dailies cho các video quảng cáo, nên đòi hỏi phải tạo các file có thể phân phối được và nhiệm vụ này được giao cho DIT. Khi mỗi project đều là độc đáo và có các tiêu chí rất cụ thể, công việc mà chúng tôi làm trong các bộ phim truyền hình và phim điện ảnh có xu hướng hơi khác một chút so với các dự án sản xuất video quảng cáo thương mại.

Project chính của tôi trong những năm gần đây là show Girls của HBO và những gì tôi đang làm với tư cách là DIT trên một dự án như thế này không thể khác hơn so với khi tôi làm việc trên một dự án sản xuất video quảng cáo thương mại. Ở đây, thách thức là tạo ra một workflow phù hợp cho tất cả các bên liên quan, thiết lập các chuẩn mực và các phương pháp tốt nhất, và sau đó thông qua quá trình quản lý chất lượng nghiêm ngặt, duy trì độ phơi sáng và đường màu cơ sở trong suốt mùa và giữ cho chương trình “trông giống như một chương trình truyền hình”. Quá trình kiểm soát chất lượng được mở rộng để giúp các trợ lý đánh giá trường nét, kiểm tra xem liệu có lọt bóng của boom vào khung hình hay không, có các phản xạ ánh sáng không mong muốn, len flare… hay không. Và đảm bảo rằng thứ mà mọi người trên hiện trường đang xem là thứ mà họ sẽ thấy trong dailies.

Một giá trị khác của dịch vụ mà DIT cung cấp là kéo iris. Cũng như 1st AC thực hiện pull focus và giấu các chuyển đổi, DIT có thể điều khiển iris từ xa để giúp chỉnh sửa độ cân bằng phơi sáng và duy trì tính nhất quán khi quay trong điều kiện ánh sáng ban ngày liên tục thay đổi.

Elhanan Matos: Đối với phim điện ảnh, mọi thứ lại khác nữa, giống như là miền tây hoang dã vậy. Có rất nhiều DIT gắn bó với cách làm việc truyền thống, bơi tất cả những thứ mà họ xử lý là tín hiệu. Vì vậy họ sẽ có màn hình và màn hình hiển thị waveform và như vậy là họ sẽ không đụng vào cái gì khác. Và bạn có người sẽ làm color correct trực tiếp trên hiện trường, nhưng họ không muốn động vào dailies.

Tôi chưa từng gặp một DIT nào làm dailies cho phim điện ảnh hết. Có người làm việc đó, nhưng nó không phổ biến như trong lĩnh vực sản xuất video quảng cáo. Đối với quảng cáo, bạn cần tạo dailies. dailies trong truyền hình và điện ảnh – họ mong đợi nhiều hơn, họ mong đợi có DVD dailies. Không ai xem dailies trong quảng cáo. Nó chỉ dành cho editor thôi.

DIT VÀ NHỮNG QUAN NIỆM SAI LẦM VỀ VỊ TRÍ NÀY

Hỏi: Vai trò của DIT trong các dự án độc lập là như thế nào?

Ben Schwartz: Bạn có nghĩ rằng dự án sản xuất phim – video nào cũng cần DIT không? Không. Tôi hiểu được rằng trong thế giới phim độc lập, khi ngân sách hạn hẹp, đơn giản là không có chỗ cho DIT. Điều đó nói lên rằng, tôi nghĩ tất cả các dự án sản xuất phim – video đều được hưởng lợi trong việc có DIT trên phim trường, ít nhất là để đảm bảo an toàn dữ liệu. Họ là những người dày dạn kinh nghiệm nhất trong việc sao lưu dữ liệu và là người quen thuộc nhất với các hoạt động bên trong của một hệ thống camera cụ thể.

Vậy nên tôi nghĩ rằng việc có DIT trên hiện trường cũng giống như một chính sách bảo hiểm. Tôi đã nghe nhiều về chuyện một số production bị mất dữ liệu khi sản xuất thuê người không đủ khả năng quản lý dữ liệu. Một DIT giỏi có nghĩa là nhà sản xuất và DP không bao giờ phải lo lắng về việc mất dữ liệu hoặc bất cứ sai sót nào có thể xảy ra trong workflow. Workflow cũng giống như hoa tuyết, mỗi workflow đều khác nhau.

Abby Levine: Một số production yêu cầu phải có DIT và một số thì không. Nhìn chung, thiết bị bây giờ đã dễ sử dụng hơn ngày xưa rất nhiều. Môi trường bây giờ thực sự đã là “bạn nhận được những gì bạn thấy” – hoặc nó có thể được set up theo cách đó – vậy nên nó có tính an toàn cao hơn nhiều khi so với những ngày còn quay bằng phim nhựa. Điều này có thể xảy ra với hoặc không có DIT. Người ta thường nhanh chóng nói rằng chúng tôi có một chính sách bảo hiểm rẻ tiền, hay nói cách khác, khi chúng tôi lên hiện trường, sẽ không có vấn đề gì xảy ra. Nếu có vấn đề gì, chúng tôi sẽ không quay cả ngày với các vấn đề đó. Chúng tôi thấy nó, nhận ra nó và chúng tôi biết phải làm gì. Và trong một chương trình lớn, đây là một yếu tố chính giúp mọi người thoải mái hơn.

Khi nói chuyện với một DP hôm nay, tôi đã hỏi: “Ánh sáng ngoài trời khá ấm, giờ thì nó trông như daylight. Anh có quan tâm không? Anh có muốn xử lý vấn đề đó hay không?” Tôi đang kiểm tra hình ảnh thông qua monitor tốt nhất trên hiện trường – tôi biết chúng ta đã quay được những gì. Rất đáng để thuê một người đủ chuyên môn để phụ trách vấn đề này. Có nhiều production không có quá nhiều phức tạp về mặt kỹ thuật và nhất thiết cần đến DIT.

Nếu bạn quay một dự án thực sự quan trọng, có lẽ bạn sẽ muốn một người đủ tốt phụ trách việc này giúp bạn. Nếu bạn quay một dự án không mấy quan trọng và bạn có thể quay lại mà không tốn thêm chi phí thì nó lại là một câu chuyện khác. Nhưng có một vài thứ mà bạn không thể sửa chữa được – tôi không quan tâm bạn quay raw hay gì, nhưng out nét, thiếu sáng, dư sáng… là những lỗi cực kỳ tồi tệ.

Ben Cain: Vấn đề về vị trí DIT là nó không phải là một vị trí bắt buộc phải có trong đoàn phim. DP là một người bắt buộc phải có. Mọi dự án trừ sản xuất video quảng cáo thương mại, một Camera Operator và 2nd AC là những vị trí bắt buộc phải có. 1st AC luôn là một vị trí bắt buộc phải có. Nhưng DIT thì không, vậy nên nếu người ta thuê bạn, thì có nghĩa là ai đó muốn (và cần) bạn ở đó. Ai đó hiểu được rằng bạn ở đó để tạo điều kiện cho DP tạo ra được những thứ mà anh ta muốn làm và bảo vệ cho dữ liệu của production.

Dịch vụ này không nên bị giới hạn trong các production kinh phí lớn và có khi, một DIT có thể thấy mình có giá trị hơn trong các chương trình nhỏ, nơi họ có cơ hội để cung cấp các dịch vụ mà thường là lĩnh vực của các nhà cung cấp bên ngoài đắt đỏ. Tuy nhiên, theo tôi, dịch vụ đầu tiên mà một DIT nên cung cấp cho bất kỳ production nào bất kể quy mô chính là tính toàn vẹn của hình ảnh. Rốt cuộc thì tên gọi của vị trí này có nghĩ là “Kỹ thuật viên hình ảnh kỹ thuật số” (Digital Imaging Technician). Vậy nên bạn hãy quản lý phần hình ảnh cho tốt.

Elhanan Matos: Đối với một người làm phim độc lập, điều quan trọng là phải đảm bảo không có sai sót trên hiện trường. Nó tùy thuộc vào việc bạn đang quay cái gì và mức độ thoải mái của DP đối với máy quay. Bất kể DP quen với máy quay tới mức nào thì cũng vẫn rất khó để thei dõi mọi thứ. Nếu bạn quay 12-13 trang một ngày, mọi thứ sẽ rất khó khăn. Và nếu 1st AC không giỏi máy tính thì sẽ có rất nhiều vấn đề: bạn có thể mất file, thiết đặt máy quay có thể bị thay đổi hoặc không được set up đúng. Nhưng nếu bạn thực sự thoải mái với máy quay và trợ lý quay đủ tốt để làm việc ở chế độ đa nhiệm, thì câu trả lời là không, bạn không cần thuê thêm một người để làm công việc đó.

DIT VÀ NHỮNG QUAN NIỆM SAI LẦM VỀ VỊ TRÍ NÀY

Hỏi: Anh muốn thay đổi điều gì trong nhận thức hiện tại của mọi người về vai trò của DIT?

Ben Schwartz: Tôi muốn các nhà sản xuất và các DP xem DIT là một đồng minh thiết yếu trong quá trình sản xuất, chứ không phải là một chi phí xa xỉ. Tôi nghĩ hầu hết mọi người xem chúng tôi là đồng minh nếu họ hiểu rõ vai trò và công việc của một DIT, và tôi nghĩ một số không nghĩ vậy. Đây vẫn là một vị trí bí ẩn đối với nhiều người và nó không cần phải như vậy. Vai trò của chúng tôi thay đổi tùy theo công việc, và mức độ không chắc chắn này dẫn đến những nghi ngờ về các dịch vụ mà DIT đang cung cấp.

Tôi cũng nghĩ rằng thuật ngữ DIT đã bị pha loãng bởi những người mà chuyên môn của họ chỉ giới hạn trong các công việc liên quan đến máy tính hoặc quản lý dữ liệu nhưng vẫn tự gọi mình là DIT. Như AC hoặc cinematographer, bạn có thể tìm thấy nhiều DIT khác nhau với nhiều mức độ kinh nghiệm và khả năng khác nhau. Khi một nhà sản xuất hoặc một DP có trải nghiệm tiêu cực với một DIT, nó có thể làm cho nhận thức chung của họ về DIT trở nên tiêu cực.

Tôi nghĩ đó là một điều đáng tiếc, bởi một DIT tốt là một người bạn thực sự và một đồng minh của cả quay phim và production, cả về mặt sáng tạo, kỹ thuật lẫn tài chính. Tôi nghĩ rằng chúng tôi là một khoản đầu tư đáng giá và tôi hy vọng rằng các DIT sẽ thực sự được đánh giá đúng và trở thành một vị trí không thể thiếu trong mọi production.

Abby Levine: Thông tin sai lệch là một vấn đề lớn. Một số nhà sản xuất, tôi nghĩ, phần lớn biết ít hơn những gì họ nên biết và vấn đề lớn là họ không thừa nhận điều đó, bạn có thể giúp đỡ họ – đây là một việc dễ làm. Tôi sẽ sẵn sàng giới thiệu top 20 DIT hàng đầu với 2000 DIT hàng đầu và nói với họ “đây là những gì các bạn cần biết về chúng tôi.”

Ben Cain: Đã có một số thay đổi chính mang tính mô hình trong vài năm trở lại đây, tạo ra nhiều sự nhầm lẫn về những gì chúng tôi làm, chúng tôi là ai và làm thế nào để chúng tôi hòa hợp được với bộ phận quay phim. Quan niệm sai lầm phổ biến nhất hiện nay là ‘DIT chỉ hơn người chép file một tí’. Đây là một hệ quả đáng tiếc của việc các máy quay ghi file chiếm số lượng khổng lồ và người dùng, với sự thiếu hiểu biết của mình, gọi tất cả những ai ngồi chép file cho họ là DIT.

Khi các máy quay ghi trên băng không còn được sử dụng nữa, các DIT không còn sự lựa chọn nào khác là phải làm quen với các hệ thống dựa trên file và nó đã tự chứng tỏ rằng mình là một sự tiến hóa hợp lý và thú vị của vị trí này. Nếu có thể làm sáng tỏ bất cứ quan niệm sai lầm nào về việc mà chúng tôi đang làm, tôi sẽ nói rằng bất kỳ ai làm việc với DP để thiết lập look của một dự án hoặc đang làm color correction là một DIT. Bất cứ ai làm việc hỗ trợ các phụ quay và chỉ chép file và sao lưu file là Loader. Sự khác biệt này tiếp tục là vấn đề cho cả DIT và công đoàn đại diện cho lợi ích của chúng tôi.

Elhanan Matos: Có rất nhiều giám đốc sản xuất từng bước vào khu vực làm việc của tôi và thấy tôi đang cần màu và áp LUT cho các footage, họ nói: “Ôi trời, tôi không biết là anh làm tất cả những công việc này.” Nó giống như là “Ồ, vâng.” Quan niệm sai lầm lớn nhất hiện nay, ít nhất trong lĩnh vực sản xuất video thương mại, là tất cả những gì chúng tôi làm là chép file. Có những nhà sản xuất ngây thơ nghĩ rằng transcode chỉ đơn thuần là chép file. Tôi muốn nói rằng phần lớn các điều phối viên sản xuất và giám đốc sản xuất có 5-6 năm kinh nghiệm hiểu rõ vấn đề, nhưng vẫn có rất nhiều người mới vào nghề không biết ai là ai và làm gì trên set.

Nguồn: No Film School

Pixel Factory sưu tầm và biên dịch